Thương mại hàng hóa Việt Nam - ASEAN sau 20 năm Việt Nam gia nhập

Thương mại hàng hóa Việt Nam - ASEAN sau 20 năm Việt Nam gia nhập

Thương mại hàng hóa Việt Nam - ASEAN sau 20 năm Việt Nam gia nhập
Vinanet - Trong những năm qua, ASEAN luôn là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam và quan hệ thương mại hàng hóa song phương giữa Việt Nam và ASEAN ngày càng phát triển.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – ASEAN tăng gấp 7 lần sau 20 năm trở thành viên của khối này. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và ASEAN năm 2016 đạt 41,49 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 11,8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.
 
Trong đó, xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang các nước ASEAN trong năm 2016 đạt gần 17,45 tỷ USD, giảm 4,4% so với năm 2015. So với thời điểm gia nhập cộng đồng này cách đây 20 năm, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang ASEAN năm 2016 tăng 6,8 lần với tốc độ tăng bình quân 10% năm.
Nhập khẩu hàng hóa xuất xứ ASEAN năm 2016 đạt 24,04 tỷ USD, tăng nhẹ 1% so với cùng kỳ năm 2015 và tăng 7,2 lần so với năm 1996. Sau 20 năm gia nhập, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa xuất xứ từ ASEAN đạt tốc tộ tăng 10,4% mỗi năm.
Cán cân thương mại hàng hóa luôn nghiêng về thâm hụt với các nước ASEAN và trong suốt 20 năm gia nhập, Việt Nam chưa từng đạt thặng dư thương mại với khối này. Năm 1996 thời điểm gia nhập ASEAN Việt Nam thâm hụt với khối này là 745 triệu USD, thì đến năm 2016 thâm hụt 6,59 tỷ USD.
Thị trường xuất nhập khẩu:
Năm 1996, ASEAN là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Sau 20 năm, ASEAN là thị trường tiêu thụ hàng hóa xuất xứ Việt Nam lớn thứ 4, sau Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc; hàng hóa nhập khẩu từ ASEAN đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Hàn Quốc.
Thương mại Việt Nam - ASEAN năm 2016 chủ yếu sang 6 thị trường chiếm 96,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường ASEAN. Trong đó:
Thái Lan là thị trường xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN, thương mại song phương năm 2016 tăng 19 lần so với năm 1996 thời điểm Việt Nam gia nhập ASEAN. Cụ thể, trong năm 2016 thương mại hai chiều Việt Nam - Thái Lan đạt 12,54 tỷ USD, chiếm 30,2% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và ASEAN. Trong đó, xuất khẩu đạt 3,69 tỷ USD, tăng 15,9% so với năm 2015 và tăng hơn 31 lần so với năm 1996; nhập khẩu năm 2016 đạt 8,85 tỷ USD, tăng 6,9% so với năm 2015, và tăng 16,7 lần so với năm 1996. Thái Lan cũng là thị trường có thâm hụt thương mại lớn nhất với Việt Nam trong khối ASEAN, tới 5,16 tỷ USD, gấp 1,4 lần kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này.

Thương mại song phương Việt Nam - Malaixia đứng thứ 2 trong ASEAN và năm 2016 tăng gấp 30 lần so với năm 1996. Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2016 đạt 8,51 tỷ USD, chiếm 20,5% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN. Trong đó, xuất khẩu đạt 3,34 tỷ USD, giảm 6,7% so với năm 2015, và tăng 41 lần so với năm 1996. Nhập khẩu hàng hóa từ Malaixia năm 2016 đạt 5,17 tỷ USD, tăng 23,2% so với năm 2015, và tăng 25 lần so với năm 1996. Thâm hụt thương mại với Malaixia là 1,83 tỷ USD, bằng 54,7% kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này.
Singapore là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam trong ASEAN, với kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2016 đạt 7,16 tỷ USD, chiếm 17,3% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam - ASEAN. Trong đó, xuất khẩu đạt 2,42 tỷ USD, giảm 25,6% so với năm 2015; nhập khẩu đạt 4,74 tỷ USD, giảm 21,4% so với năm 2015; thâm hụt thương mại hàng hóa với Singapore là 2,32 tỷ USD.
Thương mại song phương với thị trường Indonexia năm 2016 đạt 5,61 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 13,5% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - ASEAN. Trong đó, xuất khẩu đạt 2,62 tỷ USD, giảm 8,2% so với năm 2015, tăng 54 lần so với năm 1996. Nhập khẩu đạt 2,99 tỷ USD, tăng 19 lần so với năm 1996. Cán cân thương mại với Indonexia thâm hụt 373 triệu USD.
Camphuchia và Philippin, Lào và Myanma là các thị trường đem lại thặng dư thương mại cho Việt Nam. Trong đó, Campuchia là thị trường đem lại thặng dư lớn nhất với hơn 1,47 tỷ USD, thị trường Philipin là 1,16 tỷ USD; Myanma là 375 triệu USD; Lào là 132 triệu USD.
 
Hàng hóa xuất khẩu:
Điện thoại các loại và linh kiện: Là nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất sang thị trường ASEAN, tăng 7,8 lần so với năm 2010, đạt tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2010-2016 là 40,9%.
Với kim ngạch năm 2016 là 2,27 tỷ, tăng 6,3% so với năm 2015, chiếm tỷ trọng 13% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN. Điện thoại các loại và linh kiện chủ yếu được xuất khẩu sang: Thái Lan là 716 triệu USD, tăng 24,4%; Indonexia là 629 triệu USD, giảm 10,2%; Malaixia là 444 triệu USD, tăng 4,8% so với năm 2015;  Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2011 là 2,2%; 2012-2016 là 25,7%.
Xuất khẩu nhóm hàng này sang thị trường ASEAN năm 2016đạt 2,04 tỷ USD, tăng 45,4%, và chiếm tỷ trọng 11,7%. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chủ yếu được xuất sang : thị trường Malaixia là 858 triệu USD, tăng 88,1% so với năm 2015; Thái Lan dạt 415 triệu USD, tăng 39,3%; Singapore đạt 405 triệu USD, tăng 10,4%; ...
Máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng khác: Năm 2016 kim ngạch đạt 1,42 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2010.
Các thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng của Việt Nam năm 2016 chủ yếu gồm: Singapore đạt 386 triệu USD, tăng 19,8%; Thái Lan 299 triệu USD, tăng 20,1%; Philiipin đạt 221 triệu USD tăng 8,1%; Malayxia đạt 143 triệu USD; tăng 28,1% so với năm 2015;...
Dầu thô: Năm 2006 chiếm 42% tổng kim ngạch xuất khẩu với các nước ASEAN. Năm 2010 chiếm 15,2% , đến năm 2016 chỉ còn 2,4% tổng kim ngạch XK sang ASEAN.
Xuất khẩu dầu thô sang ASEAN giảm qua các năm, năm 2016 thấp nhất trong 11 năm. Năm 2016: lượng 1,18 triệu tấn, trị giá đạt 427 triệu USD , thị trường xuất khẩu chủ yếu: Malaysia, Singapore, Thái Lan.
 
 
Nhóm hàng nông, thủy sản (hàng thủy sản, chè, gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều, sắn và SP sắn): Năm 2016 đạt kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN là 1,88 tỷ USD tăng gấp 2,3 lần năm 2005, kim ngạch năm 2012 cao nhất với 3,04 tỷ USD. ASEAN là một trong 5 thị trường lớn nhất nhập khẩu hàng nông thủy sản của Việt Nam năm 2016 (chiếm 8,9% tỷ trọng hàng nông thủy sản XK năm 2016).
Các thị trường tiêu thụ hàng nông thủy sản của Việt Nam bao gồm: Malayxia đạt 462 triệu USD, giảm 25,5% so với năm 2015; Thái Lan đạt 455 triệu USD, tăng 12,5%; Philippin đạt 450 triệu USD, giảm 32,1%; ...
Hàng dệt may: Đạt kim ngạch xuất khẩu năm 2016 là 706 triệu USD tăng gấp 10 lần năm 2005. Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 29,9%; Giai đoạn 2011-2015 là 19,2%; Năm 2016 tăng 15,3% so với năm 2015. Các thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam chủ yếu gồm: Campuchia với 244 triệu USD, tăng 19,2% so với năm 2015; Indonexia đạt 114 triệu USD, giảm 13,7%; Malaixia đạt 86 triệu USD, tăng 24%; ..
Hàng hóa nhập khẩu
Xăng dầu các loại: Năm 2016 đạt kim ngạch 3,48 tỷ USD; tăng 30,9% so với năm 2005. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005-2010 là 2,8%; giai đoạn 2011-2016 là 2,2%.
Các đối tác ASEAN cung cấp xăng dầu cho Việt Nam chủ yếu gồm: Singapore với 4 triệu tấn, trị giá 1,61 tỷ USD, tăng 15,2% về lượng và giảm 22% về trị giá so với năm 2015; Malaixia với 3,1 triệu tấn, trị giá 1,23 tỷ USD, tăng 3,7 lần về lượng và 2,8 lần về trị giá so với 2015; Thái Lan với 1,5 triệu tấn, trị giá 650 triệu USD; tăng 76,5% về lượng và tăng 10% về trị giá; ...
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Năm 2016 đạt hơn 3 tỷ USD tăng gấp gần 4 lần năm 2006. Tốc độ tăng kim ngạch bình quân giai đoạn 2005-2011 là 6,8%; giai đoạn 2011-2016 là 23,1%. Các thị trường cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong năm 2016 chủ yếu gồm: Singapore với 1,03 tỷ USD, giảm 41,6% so với năm 2015; Malaixia với 963 triệu USD, tăng 10,7%; ...
Máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng khác: Năm 2016 đạt kim ngạch 1,89 tỷ USD, tăng gấp gần 2 lần năm 2006.
Các thị trường trong khối ASEAN cung cấp máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng khác cho Việt Nam năm 2016 chủ yếu gồm: Thái Lan 813 triệu USD, tăng 2,1% so với năm 2015; Malaixia đạt 428 triệu USD; giảm 16,2%; Singapore đạt 391 triệu USD, tăng 27,7%;...
Chất dẻo nguyên liệu: Trong giai đoạn 2011-2016 đạt kim ngạch nhập khẩu hàng năm trên 1 tỷ USD từ thị trường ASEAN với tốc độ tăng bình quân giai đoạn này là 4,2%.
Các thị trường trong khối ASEAN cung cấp chất dẻo nguyên liệu cho Việt Nam năm 2016 chủ yếu gồm: Thái Lan với 538 triệu USD, giảm nhẹ 0,5% so với 2015; Singapore với 253 triệu USD, giảm 13,2%; Malaixia là 233 triệu USD, giảm 6,2%; ...
Phương tiện vân tải và phụ tùng: Kim ngạch năm 2016 đạt 1,85 tỷ USD, tăng 3,6 lần năm 2006. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2016 đạt 15%. ASEAN là thị trường lớn nhất cung cấp ô tô nguyên chiếc các loại cho Việt Nam năm 2016 với kim ngạch 868 triệu USD.
Các thị trường ASEAN cung cấp phương tiện vận tải và phụ tùng cho Việt Nam năm 2016 chủ yếu gồm: Thái Lan 1,46 tỷ USD, tăng 23,9% so với năm 2015; Indonexia với 309 triệu USD, tăng 47,4%. Trong đó, ô tô nguyên chiếc các loại xuất xứ từ Thái Lan đạt 34,2 nghìn chiếc, trị giá 645 triệu USD; ô tô nguyên chiếc các loại xuất xứ Indonexia là 3,9 nghìn chiếc, trị giá 44 triệu USD.
Chỉ tính riêng 6 tháng/2017 lượng ô tô xuất xứ Indonexia đã đạt 10,5 nghìn chiếc, trị giá 184 triệu USD; xe tô tô xuất xứ Thái Lan là 19,2 nghìn chiếc, trị giá 347 triệu USD.
 
 Nguồn: Tổng cục Hải quan

Cập nhật: 10/08/2017 3:53:46 CH Lượt xem: 11
Chat trực tuyến